Trần Hữu Mộc Lan - Nguyệt Ánh Sa Khâu

Chương 7: Chương 7



19

Từ đó về sau, ta không còn gặp lại Hoắc Đình nữa.

Tin tức hắn chết được truyền đến ba ngày sau đó.

Ngày hôm đó ta bị hắn đẩy ra khỏi đại điện, vệ quân lập tức kéo ta đi, mặc cho ta vùng vẫy, gào khóc thế nào cũng vô ích.

Những người được hắn huấn luyện đều lạnh lùng giống như hắn, bị ta la hét đến phiền, có người dứt khoát giáng một chưởng khiến ta ngất đi.

Khi ta mơ mơ màng màng tỉnh lại đã thấy mình đang nằm trong một cỗ xe ngựa đang lao nhanh. Người đánh xe là Hoắc Xuân, mặc cho ta cắn xé thế nào hắn cũng không chịu dừng lại.

Ta khóc lóc, gào thét trong xe không ngừng.

Hoắc Xuân chưa từng nhìn thấy ta mất kiểm soát như thế này, chưa từng thấy ta điên cuồng như vậy. Đến đêm, hắn dừng xe trong một khu rừng sâu, vừa mở miệng, hai hàng nước mắt đã lăn dài trên má.

“Mộc Lan, ngươi đừng như vậy. Ta sợ lắm.”

Ta nắm chặt vạt áo Hoắc Xuân, một nỗi đau đớn như trời đất sụp đổ dâng lên trong lồ ng ngực.

Trái tim ta giống như bị xé toạc ra, chứa đầy nỗi tuyệt vọng, bất lực, đau đớn, nuối tiếc, cùng sự giày vò khi không thể sống chết có nhau cùng người kia.

Lúc đầu ta khóc, sau đó ta lại cười, rồi lại gào thét thảm thiết.

Sau này nước mắt ta cạn khô, giọng khàn đặc, giống như mất đi linh hồn, chẳng còn chút ý chí nào nữa.

Mãi đến khi Hoắc Xuân tìm được Hạ cô cô đến.

Khi đó ta đã ở huyện Mậu, Hoắc Xuân phí hết tâm sức tìm được một căn nhà nhỏ giữa hồ trên núi Kim Thúy để ta ẩn thân.

Thánh chỉ nói rằng Thừa tướng Hoắc Đình nắm giữ đại quyền lẽ ra phải làm gương cho triều thần, lấy bản thân làm chuẩn mực, để lại tấm gương cho hậu thế nhưng lại kiêu ngạo tự mãn, nghịch lại thiên mệnh, vong ân phụ nghĩa, kiêu căng phóng túng, tàn hại đồng liêu vô tội, theo luật đáng bị nghiêm trị không tha. Nhưng xét đến công lao trước đây, miễn cho tội chu di cửu tộc, chỉ xử trảm một người, tịch thu gia sản sung vào quốc khố để răn đe kẻ khác.

Chiếu chỉ không nhắc đến việc xử lý hơn trăm người còn lại của Hoắc gia. Thế nên kẻ chạy trốn thì chạy trốn, kẻ ly tán thì ly tán. Ta và Hoắc Xuân càng không dám lộ diện.

Chỉ có Hạ cô cô ngoài Hoắc gia ra không còn nơi nào khác để nương tựa, một mình tìm đến huyện Mậu.

Khi ta nhìn thấy Hạ cô cô, thấy bà ấy lấy từ trong bọc ra từng bộ y phục mà Hoắc Đình mặc trước đây, bộ chén trà hắn từng dùng, giấy bút hắn từng viết, ta mới như bừng tỉnh khỏi giấc mộng dài, bật khóc nức nở.

Hơn nửa năm sau, Thạch Trí Thanh tìm đến núi Kim Thúy để gặp Hoắc Xuân.

Ta nghe cuộc trò chuyện của hai người mới biết được, từ mấy tháng trước Hoàng đế đã vì lao lực quá độ mà băng hà, Thái tử tám tuổi thuận theo ý trời đăng cơ.

Thạch Trí Thanh đến là để khuyên nhủ Hoắc Xuân tiếp tục đèn sách, tham gia khoa cử.

Lúc đó, ta đang ngồi bên hồ lặng nhìn mặt nước, hồi lâu không nghe thấy Hoắc Xuân trả lời. Thạch Trí Thanh lại nói: “Sư phụ biết trải qua biến cố này trong lòng con bất bình phẫn uất, khó tránh khỏi nản chí. Nhưng con thông minh tuyệt đỉnh, nếu có thời gian rèn giũa nhất định có thể trở thành bậc tài trí gánh vác quốc gia. Sư phụ không đành lòng nhìn con bị mai một nơi thôn dã.”

“Đây cũng không phải điều Hoắc đại nhân muốn thấy. Con còn nhớ kỳ vọng mà ngài ấy đặt vào con chứ? Còn nhớ ngày con thi đỗ Cử nhân, ngài ấy đã tự hào về con thế nào không? Nói thật với con, hôm nay ta đến đây không chỉ là ý của ta, mà còn là ý của Thái hậu. Trước khi qua đời, Hoắc đại nhân đã từng nhắc đến con trước mặt tiên đế. Hiện nay triều đình không có nhân tài, tân đế lại còn quá nhỏ tuổi, nếu như không có ai có thể sánh ngang với Hoắc tướng, Bành tướng khi xưa đứng ra gánh vác, chỉ sợ quốc vận sẽ từ thịnh trị chuyển sang suy tàn.”

“Nếu chuyến này trở về mà triều đình không thấy con xuất hiện, sợ rằng sẽ lại nổi lên cơn sóng gió. Việc này nặng nhẹ ra sao, cần con tự mình cân nhắc.”

Những lời đó vừa là khuyên nhủ móc tim móc phổi, vừa là lời cảnh báo sau khi đã quan sát thời thế.

Hoắc Xuân ngẩng đầu nhìn sang ta. Ta vừa đi đến cửa, nhàn nhạt hỏi:

“Tiên sinh, có thể nói cho ta biết Hoắc Đình đã chết như thế nào không? Chết ở đâu? Thi thể được xử trí ra sao?”

Ta biết Hoắc Đình đã không còn trên nhân thế, chỉ là không hiểu vì sao ngay cả cái chết của hắn cũng trở thành một điều cấm kỵ.

Không ai nhắc đến, người người đều kiêng dè.

Nhưng ta thì không, ta nhất định phải biết.

Thạch Trí Thanh cũng chần chừ giống như bao người khác, Hoắc Xuân đứng dậy khuyên ta: “Mộc Lan, huynh trưởng đã mất rồi, sao ngươi còn cố chấp truy hỏi để làm gì? Chỉ càng thêm đau lòng mà thôi. Nếu huynh trưởng ở dưới suối vàng biết được, chắc chắn cũng không vui vẻ gì đâu.”

Ta lạnh lùng nhìn Hoắc Xuân, nước mắt từng giọt rơi xuống. Ta tránh hắn, quỳ xuống trước mặt Thạch Trí Thanh:

“Cầu xin tiên sinh hãy nói cho ta biết, chuyện này đối với ta rất quan trọng. Ta muốn biết ngài ấy đã chết như thế nào, phải chịu hình phạt ra sao, trước khi chết có lời nào để lại cho ta không, hài cốt của ngài ấy bây giờ đang ở đâu. Dù cho ngài ấy có bị nghiền xương thành tro bụi, ta cũng muốn biết ngày đó gió thổi về hướng nào.”

Thạch Trí Thanh kinh ngạc lùi lại, vội vàng cúi người đỡ ta dậy.

“Ta nói, ta nói…”

Tối hôm đó, ta có một giấc mơ, ta mơ thấy Hoắc Đình.

Trong thư phòng của Hoắc phủ, ta nổi giận đùng đùng đẩy cửa xông vào chất vấn, hỏi hắn vì sao lại trừng phạt nghiêm khắc Hoắc Xuân, vì sao lại đưa Hoắc Xuân đến Lang Hiên.

Hoắc Đình mặc áo bào màu ánh trăng, dáng vẻ ung dung, không giống một vị đại thần quyền cao chức trọng, mà chỉ như một công tử thế gia bình thường.

Hắn ngẩng đầu lên khỏi trang sách, trên môi là nụ cười nhạt đầy lạnh lùng: “Thằng nhóc thối kia nói gì mà huynh mất thì đệ kế vị. Nó đang rủa ta chết sớm sao?”

Ta tức giận đến bật cười, cười đến mức giật mình tỉnh giấc.

Hạ cô cô nằm trên giường nhỏ bên cạnh cũng bị đánh thức, vội vàng hỏi:

“Cô nương, lại mơ thấy ác mộng à?”

Ta dùng ống tay áo lau mặt: “Không, là một giấc mơ đẹp. Ta mơ thấy Đông Trần.”

Nói rồi ta lại bật cười, không để ý đến ánh mắt lo lắng của Hạ cô cô. Ta chui ra khỏi chăn, cầm bút ghi lại giấc mơ vừa rồi.

Những ngày này ta vẫn luôn cẩn thận hồi tưởng lại từng câu từng chữ, tìm kiếm những tâm tư mà Hoắc Đình cố tình giấu kín, xem dấu vết nằm ở đâu.

Hắn giỏi che giấu, thích viết câu đố, vậy thì ta sẽ giải đố.

Ta cắn bút, quay đầu hỏi Hạ cô cô: “Đưa Hoắc Xuân đến Lang Hiên có lẽ là lần duy nhất ngài ấy để lộ tư tâm phải không?”

Nhưng ngay cả tư tâm đó cũng chỉ thoáng qua, mỏng manh đến mức ta không nhận ra.

Lúc ấy khi Hoắc Xuân kéo ta đến trước mặt Hoắc Đình nói muốn cưới ta, đừng nói là hắn, ngay cả ta cũng lo lắng nếu cứ để tình cảm đó tiếp tục phát triển, sợ rằng sẽ làm lỡ dở con đường học hành của Hoắc Xuân, hại cả đời Hoắc Xuân.

Sau đó, khi hắn phát hiện ra chuyện ta hạ độc hại Bành Diệu Tổ, ban đầu là vô cùng giận dữ, muốn truy cứu trách nhiệm, vốn có cả trăm lý do để giết ta nhưng cuối cùng không hiểu sao lại bỏ qua.

Lúc đó ta cứ nghĩ là hắn phát điên rồi.

Nhưng ta chưa từng nghĩ tới hắn vội vàng bỏ lại ta mà đi là để xử lý tai họa mà ta gây ra, ngăn cản cơn phong ba bão táp kéo đến.

Ta dùng bút của hắn để viết chữ, dùng trà cụ của hắn để uống trà, ủi thẳng tắp bộ áo bào của hắn treo bên cửa sổ, dựa vào chút ảo tưởng và cảnh trong mộng để sống qua ngày.

Cuối cùng ngay cả Hạ cô cô cũng không nhịn được nữa. Một ngày nọ bà ấy đứng trước thư án, nói với ta:

“Cô nương, lần đó người trúng tên bị thương, ta đã nhận ra tâm tư của gia chủ đối với người. Sau này người hỏi đến, ta không dám nói là vì gia chủ không cho phép. Bình thường gia chủ rất thích sạch sẽ, vậy mà hôm đó lại để mặc máu của người nhuộm đỏ y phục của mình. Lúc rút tên ra, chính tay ngài ấy đỡ người, người đau đến mức hét lên, còn cắn ngài ấy một cái. Ngài ấy cứ thế nhìn người, vô cùng lo lắng, vô cùng tập trung, ngay cả bản thân ngài ấy cũng không nhận ra.”

“Sau đó ngài ấy đánh tiểu thiếu gia trong viện, từng câu từng chữ đều nói về nỗi khổ tâm của người. Gia chủ có nữ tử mình thích, ta vốn nên vui mừng. Nếu như phu nhân và lão gia dưới suối vàng biết được, có lẽ cũng sẽ cảm thấy an ủi phần nào.”

“Nhưng ngài ấy lại bảo ta đừng nói với người, ngài ấy không muốn người khó xử. Nói vậy mà ngài ấy đã âm thầm chuẩn bị sính lễ cho người, nói nếu như sau này A Trì thiếu gia có thể thành tài, vẫn đối với người trước sau như một thì nhất định sẽ để người xuất giá nở mày nở mặt.”

Ta quay đầu nhìn Hạ cô cô: “Ngươi nói xem, ngài ấy có ngốc không?”

Mùa hè nhiều côn trùng, ta đốt một nén trầm hương, hun khói lên y phục của hắn để tránh đám thiêu thân không biết sống chết lao vào, làm vấy bẩn đồ của hắn.

“Ta chưa từng thấy ai si ngốc đến vậy, giấu đi tình yêu sâu nặng trong lòng mà tỏ ra thản nhiên như mây bay gió thoảng. Muốn che giấu nhưng lại chẳng giấu được trọn vẹn, để ta biết rồi, bảo ta làm sao coi như chưa từng có chuyện gì xảy ra đây? Con người một khi đã nhìn thấy núi xanh thật sự, làm sao còn để mắt đến đồi cát được nữa?”

“Cô nương, người cũng nên chấp nhận hiện thực đi. Tâm nguyện lớn nhất của gia chủ là mong người có thể sống tốt.”

“Cô cô, người nói xem, lúc ngài ấy bị đóng đinh xuyên qua thiên linh cái, lục phủ ngũ tạng, tay chân có đau không? Ngài ấy có hét lên không? Ngài ấy có gọi tên ta không?”

Ta lấy ra chiếc khuyên tai hoa lê mà hắn đã lấy đi một chiếc, từng giọt nước mắt rơi xuống lòng bàn tay.

“Hoàng đế quá tàn nhẫn, dùng thủ đoạn ác độc như vậy để nguyền rủa ngài ấy vĩnh viễn không thể siêu sinh. Chẳng trách ngày nào ta cũng gọi hồn ngài ấy, vậy mà ngài ấy vẫn không quay về.”

“Cô nương…”

“Ta vừa mới biết được tâm ý của ngài ấy thì đã âm dương cách biệt, bảo ta làm sao buông bỏ được đây?”

Hạ cô cô thấy không khuyên nổi ta, nói chuyện với ta lúc nào cũng như nước đổ đầu vịt, đành bất lực lắc đầu rồi quay người rời đi.

Lại một mùa thu nữa trôi qua, tin tức Hoắc Xuân thi đỗ Trạng nguyên truyền đến. Không bao lâu sau Hoắc Xuân đã đến Kim Thúy Sơn.

Vận may tốt đẹp khiến con người rạng rỡ hơn, giờ đây Hoắc Xuân đã mang dáng dấp của một bậc quan gia. Hắn đứng ở đó, không còn là cái bóng của thiếu gia Hoắc Tân nữa.

Hắn vốn nên là một người tỏa sáng rực rỡ như vậy.

Năm ấy, hai đứa trẻ từ huyện Mậu một đường chạy nạn, lảo đảo lê bước trên con đường sống chết, cuối cùng nằm trên chiếc xe ngựa hướng về kinh thành, ngước mắt nhìn trời sao rực rỡ, tưởng tượng về tương lai tốt đẹp nhất chính là ngày hôm nay.

Khi ấy chúng ta đều tin tưởng đối phương là người thân thiết nhất trên đời, đời này kiếp này sẽ không bao giờ rời xa nhau.

Thế nhưng đời người như vầng trăng tròn rồi lại khuyết, vết xe lăn về phía trước cuối cùng lại chia cắt mỗi người một hướng.

Ta mỉm cười với hắn: “Ăn cơm đi.”

Chạng vạng tối chúng ta sóng vai ngồi cạnh nhau bên hồ. Hắn ta hỏi:

“Mộc Lan, lần này ta đến là muốn hỏi, nàng có bằng lòng đi cùng ta không? Chúng ta… có thể bắt đầu lại từ đầu được không?”

Ta cúi đầu, bật cười.

Hoắc Xuân vô cùng khó hiểu:

“Mộc Lan, ta thích nàng. Ta muốn cưới nàng, điều này chưa bao giờ thay đổi. Cho dù nàng không còn đối xử với ta giống như lúc trước nữa, nhưng năm đó huynh trưởng bảo vệ hai người chúng ta chẳng phải cũng vì hy vọng ta và nàng có thể nương tựa lẫn nhau hay sao? Phần lớn những đạo lý trên đời này ta hiểu được đều là do nàng dạy ta, tại sao đến lượt nàng lại trở nên hồ đồ như vậy?”

“Nói xong chưa? Nói xong rồi thì ta đi đây.”

Ta đứng dậy nhìn hắn, nhẹ giọng nói:

“Ngày mai mang theo những thứ Hạ cô cô chuẩn bị cho ngươi mà xuống núi đi. Chúc ngươi tiền đồ như gấm, mọi chuyện trên đường đời đều thuận lợi.”

“Mộc Lan!”

“Hoắc đại nhân tương lai à, nếu sau này có một ngày ngươi đứng ở vị trí cao thì đừng quên tìm hiểu giúp ta xem hài cốt huynh trưởng ngươi đang ở đâu. Ta đã hứa với ngài ấy, sẽ không để hồn phách của ngài ấy lưu lạc bên ngoài. Cho dù là U Minh Địa phủ hay núi đao biển lửa, ta cũng phải mang ngài ấy trở về, để ngài ấy có nơi chốn để quay về.”

20

Hoắc Xuân đi rồi, chẳng có chút tin tức nào. Có lẽ là hắn đang giận dỗi với ta, từ đó không quay lại nữa.

Cuối cùng ta cũng chịu nghe lời khuyên, lập cho Hoắc Đình một ngôi mộ y phục.

Ngoài một cây bút hắn để lại, tất cả những đồ vật liên quan đến hắn đều được chôn xuống, chôn ngay bên bờ hồ, nơi có thể nhìn thấy mặt trời mọc.

Bên cạnh mộ của Hoắc Đình, ta trồng một cây sơn trà nhỏ. Khi rảnh rỗi ta xới đất, bón phân, khi mệt mỏi thì ngồi bên hồ đọc sách.

Ta quây thêm một mảnh đất bên ngoài để nuôi gà vịt, sân viện cũng dần có hơi thở của sự sống.

Ta không còn mơ thấy những giấc mơ kỳ lạ, cũng không thường xuyên giật mình tỉnh giấc lúc nửa đêm.

Thời gian giống như những trang sách lớp lớp chất chồng lên nhau, từng lớp từng lớp phủ lên, chôn vùi tâm sự, che lấp tiếc nuối.

Nỗi khổ và cô độc trên trang giấy cùng với ký ức ấm áp bên dưới dần dần hòa lẫn vào nhau, từng chút từng chút một, cuối cùng giống như mực, quyện lại thành một.

Đột nhiên có một đêm ta giật mình tỉnh giấc, Hạ cô cô cũng thức dậy theo: “Gì thế, cô nương, lại gặp ác mộng à?”

Ta nhìn ra phía cửa sổ, sắc trời vẫn còn xanh xám, một vệt sáng hồng đang nhô lên từ phía bờ hồ.

“Cô cô, ngươi có nghe thấy tiếng động gì không?”

Hạ cô cô lắc đầu.

“Chắc là gần đây bệnh bồn chồn lo lắng của ta lại tái phát rồi.”

Ta khoác áo đứng dậy định rót nước uống, nhưng lại sợ làm phiền Hạ cô cô nên đành cầm chén trà ra ngồi ngoài sân.

Trong màn sương mù mờ ảo, ta chợt nhìn thấy ngoài hàng rào hình như có bóng người lay động.

Ta giật mình hoảng hốt: “Ai đó?”

Ta vội vàng cầm lấy một cây chổi bên cửa, ba chân bốn cẳng chạy ra trước cổng, cách một cánh cửa cất giọng nghiêm khắc đe dọa:

“Ta nhìn thấy ngươi rồi! Nếu định làm việc xấu, trời cũng sắp sáng rồi đấy, chỉ cần ta hét lên một tiếng, ngươi nhất định không chạy thoát đâu!”

Phía sau cánh cửa vang lên một tràng ho khẽ, mang theo vẻ gấp gáp nhưng lại lộ ra vẻ suy yếu, giống như vừa băng qua một quãng đường núi rất xa, hơi thở vẫn còn chưa ổn định.

Ta hốt hoảng đẩy cửa ra, nhìn thấy bóng người trước mặt gầy yếu như một cây trúc.

Làn sương mỏng bao phủ trước vầng dương sắp ló rạng, từng tia sáng vàng len lỏi xuyên qua.

Ta kinh hãi, lập tức nhào đến ôm lấy thân hình tiều tụy đến mức không còn ra dáng người ấy, nước mắt lăn dài:

“Chàng từ đâu tới? Từ kinh thành sao? Nếu không thì sao không đến vào nửa đêm canh ba, mà lại chờ đến khi trời sáng mới tìm được ta? Ma sợ ánh sáng mặt trời, chàng mau lên, mau trốn đi!”

Ta vừa nói vừa cuống quýt cởi áo khoác ngoài, muốn trùm lên đầu người kia:

“Trời ơi, không phải ta đang nằm mơ chứ?”

Người kia nắm lấy đôi tay run rẩy của ta, muốn để cho ta bình tĩnh lại, rồi cúi đầu ôm chặt lấy ta.

Cả người ta run lên từng đợt như cái sàng gạo, không thể nào dừng lại được.

“Đông Trần, không phải ta không giữ lời hứa, mà là ta thực sự không tìm thấy chàng. Ngày nào ta cũng tụng chú cho chàng, muốn tìm hồn phách của chàng nhưng ta không thể tìm được. Đã rất lâu rồi chàng không xuất hiện trong giấc mơ của ta, rốt cuộc chàng đã đi đâu vậy?”

“Mộc Lan, Mộc Lan của ta.”

Giọng nói trầm thấp, khàn khàn vang lên bên tai ta. Hơi thở ấm áp nhẹ nhàng phả lên vành tai, tương phản rõ rệt với cái lạnh của buổi sớm mai.

Giọng nói ấy lại vang lên:

“Cô nương ngốc à, ta còn chưa chết, làm sao nàng có thể tìm được hồn phách của ta chứ?”

Ta cứng đờ trong vòng tay gầy yếu ấy, bàn tay đặt lên vai hắn, cảm nhận được những cơn run nhẹ của hắn truyền qua cơ thể.

Ta đẩy hắn ra, lại đưa tay sờ lên khuôn mặt gầy gò của hắn. Đúng là giống Hoắc Đình nhưng bởi vì quá tiều tụy, yếu ớt nên khác xa với hình ảnh trong ký ức của ta.

“Trời ơi, sao tóc chàng lại bạc đi nhiều như vậy?”

Ta nắm lấy đôi tay hắn quan sát kỹ hơn, trên cánh tay gầy trơ xương chi chít những vết sẹo, làn da mới mọc lên sau những vết thương đã hoại tử.

“Chàng còn sống, chàng bò lên từ địa phủ sao? Sao lại chịu nhiều thương tích như vậy?”

Ta không dám tiếp tục tìm kiếm trên người hắn nữa, chỉ lao vào trong lòng hắn, khóc không thành tiếng.

“Mộc Lan, nàng thật ngốc. Không phải nàng nói là muốn đi ngắm nhìn trời đất sao? Sao nàng cứ mãi chờ đợi thế này? Nếu ta không đến, nàng còn định đợi đến năm nào tháng nào đây?”

Ta lau khô nước mắt, kéo Hoắc Đình đi vào trong nhà, chỉ vào bài vị đặt chính giữa bàn thờ, từng nét chữ trên đó là do chính tay ta khắc ra.

Thần vị của tiên phu Hoắc Đình.

“Ta chỉ định đợi một kiếp này thôi, kiếp sau sẽ không đợi nữa.”


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.